Tuyên Quang
Kết quả triển khai Hiệp định Thương mại Tự do tại địa phương
Tổng quan kết quả
Tuyên Quang xếp hạng 2/34 tỉnh, thành phố, thuộc nhóm “Tốt” và chỉ đứng sau Hải Phòng. Điểm số của tỉnh cao hơn 11,95 điểm so với mức trung bình cả nước, với cả bốn trụ cột đều nằm trong nhóm dẫn đầu, xếp từ hạng 2 đến hạng 6. Đây là kết quả đặc biệt ấn tượng đối với một tỉnh miền núi phía Bắc có quy mô kinh tế còn hạn chế và hoạt động xuất khẩu chủ yếu dựa vào lâm nghiệp. Thành tích này cho thấy những bất lợi về vị trí địa lý và quy mô có thể được khắc phục khi chính quyền địa phương triển khai chính sách chủ động, tập trung và sâu sát với doanh nghiệp. Tuyên Quang dẫn đầu cả nước về chất lượng thông tin được cung cấp, mức độ doanh nghiệp tham gia phản hồi chính sách và hiểu biết về các cam kết phát triển bền vững (PTBV); đồng thời có tới 12 chỉ tiêu xếp hạng 2. Tỉnh có tiềm năng vươn lên nhóm “Rất tốt” nếu khắc phục hai điểm nghẽn chính: sự thiếu đa dạng trong các hình thức tận dụng FTA (hạng 32) và những rào cản doanh nghiệp vẫn gặp phải trong quá trình khai thác FTA (hạng 20). Bên cạnh đó, cần tiếp tục thu hẹp khoảng cách về hiểu biết pháp luật giữa các nhóm doanh nghiệp.
Phân tích chi tiết theo chỉ số thành phần
Đây là một trong những trụ cột nổi bật nhất cả nước, với hầu hết chỉ tiêu thuộc nhóm dẫn đầu. Chất lượng thông tin được cung cấp so với nhu cầu doanh nghiệp (A4) xếp hạng 1; mức độ hiểu biết về FTA (A1), sự đa dạng của các hình thức tiếp cận thông tin về FTA (A3), tần suất tham gia sự kiện về FTA (A5), nguồn thông tin về sự kiện truyền thông (A6) và chất lượng sự kiện truyền thông (A7) cùng xếp hạng 2. Thông tin dự báo, định hướng xuất nhập khẩu (A8) và thông tin FTA trên cổng điện tử địa phương (A9) cùng xếp hạng 5, còn nguồn thông tin từ cơ quan nhà nước (A2) xếp hạng 6.
Các kênh truyền thông truyền thống có độ bao phủ rất rộng: báo chí, truyền hình tiếp cận 94,7% doanh nghiệp, trong khi hội nghị, tập huấn và trang thông tin điện tử đều tiếp cận trên 80%. Tuy nhiên, độ bao phủ của các kênh số chưa đồng đều, khi mạng xã hội đạt 44,7% và Zalo Official Account của địa phương chỉ đạt 7,9%. Có tới 91,9% doanh nghiệp cho rằng thông tin từ cả cơ quan trung ương và địa phương đáp ứng phần lớn hoặc đầy đủ nhu cầu. Trên 91% doanh nghiệp đánh giá tích cực tất cả các nội dung của sự kiện truyền thông, trong khi 94,4% đánh giá tốt hoặc rất tốt thông tin dự báo trên cả bốn phương diện chất lượng.
Đây là trụ cột có kết quả tốt nhất của Tuyên Quang, với toàn bộ chỉ tiêu nằm trong tốp 10 cả nước. Mức độ doanh nghiệp tham gia phản hồi, góp ý chính sách (B6) dẫn đầu toàn quốc. Chất lượng hướng dẫn VBPL thực thi FTA (B3), mức độ phức tạp khi tuân thủ VBPL (B4), mức độ tham gia tập huấn VBPL thực thi FTA (B5) và khả năng cơ quan nhà nước ghi nhận, tiếp thu ý kiến doanh nghiệp (B7) cùng xếp hạng 2. Tần suất hướng dẫn VBPL (B2) xếp hạng 3, còn mức độ nắm rõ các VBPL của doanh nghiệp (B1) xếp hạng 8.
Khoảng 76–82% doanh nghiệp nắm rõ các lĩnh vực pháp luật chủ yếu và 84–87% thường xuyên nhận được hướng dẫn của chính quyền địa phương. Khoảng 89% đánh giá chất lượng hướng dẫn ở mức tốt hoặc rất tốt; tỷ lệ này đạt 100% trong nhóm doanh nghiệp lớn và FDI. Tuy nhiên, hiểu biết chưa hoàn toàn đồng đều: chỉ 55,6% doanh nghiệp vừa nắm rõ các quy định về sở hữu trí tuệ, lao động và môi trường. Bên cạnh đó, khoảng 26–32% doanh nghiệp vẫn đánh giá các quy định là phức tạp, đặc biệt đối với SPS, TBT và sở hữu trí tuệ. Đáng chú ý, nhóm doanh nghiệp nhỏ trong mẫu khảo sát phản hồi tương đối tích cực về mức độ hiểu biết cũng như nhận hỗ trợ thực thi các cam kết cụ thể.
Hiệu quả chính sách hỗ trợ (C7), tần suất và chất lượng hoạt động xúc tiến thương mại (C9.1 và C9.2) cùng xếp hạng 2. Khả năng đáp ứng nhu cầu cần hỗ trợ của doanh nghiệp (C8) xếp hạng 3, mức độ tận dụng FTA (C1) xếp hạng 4, khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ (C6) xếp hạng 5, còn số nhóm cam kết được khai thác (C4) xếp hạng 6. Kết quả cho thấy Tuyên Quang đã hình thành một hệ sinh thái hỗ trợ có chất lượng, độ bao phủ và hiệu quả cao.
Điểm bất thường nổi bật là sự đa dạng của các hình thức tận dụng FTA (C3) chỉ xếp hạng 32, cho thấy doanh nghiệp khai thác FTA tích cực nhưng vẫn tập trung vào một số hình thức quen thuộc như xuất-nhập khẩu, gia công hàng hóa chứ không áp dụng nhiều thông qua các hoạt động hỗ trợ xuất khẩu. Tương tự như nhiều tỉnh, việc tận dụng chủ yếu hướng tới ưu đãi thuế quan (76,3%), phòng vệ thương mại (60,5%) và quy tắc xuất xứ (47,4%). Hạn chế về năng lực công nghệ (57,9%) và thiếu vốn (44,7%) là hai rào cản phổ biến nhất trong việc tận dụng FTA, đặc biệt ở nhóm doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp FDI gặp nhiều khó khăn hơn với tiêu chuẩn kỹ thuật từ các đối tác FTA và quy tắc xuất xứ.
Mức độ hiểu biết của doanh nghiệp về các cam kết PTBV (D1) dẫn đầu cả nước. Đây là nền tảng đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp xuất khẩu dựa vào lâm nghiệp trong bối cảnh các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, bảo vệ rừng CITES và EUDR ngày càng chặt chẽ. Mức độ hiểu biết dao động từ 78,9% đến 86,8% trên tất cả các lĩnh vực của PTBV; doanh nghiệp FDI đạt 100%, doanh nghiệp lớn đạt 91,7%. Khoảng trống lớn nhất của doanh nghiệp tư nhân nằm ở CBAM và kinh tế tuần hoàn, cùng đạt 66,7%.
Mức độ chuẩn bị cũng rất tốt, với khoảng 82–84% doanh nghiệp đã bắt đầu lập kế hoạch, triển khai hoặc có khả năng đáp ứng các yêu cầu chủ yếu. Các hình thức hỗ trợ cụ thể từ cơ quan QLNN tại địa phương nhận được 89,5–92,1% đánh giá tích cực và gần như mọi doanh nghiệp đều cho biết đã tiếp cận hỗ trợ. Tuy nhiên, chỉ khoảng 13–16% doanh nghiệp nhận thấy các yêu cầu PTBV tạo ra tác động lớn đến hoạt động kinh doanh. Điều này cho thấy doanh nghiệp đã có hiểu biết và sự chuẩn bị tốt nhưng chưa nhận diện đầy đủ lợi ích thương mại của tuân thủ đối với thị trường, thương hiệu và chuỗi cung ứng.