Quảng Trị
Kết quả triển khai Hiệp định Thương mại Tự do tại địa phương
Tổng quan kết quả
Quảng Trị đạt 12,52 trên 40 điểm, xếp hạng 32/34, và được xếp vào nhóm Trung bình. Điểm số của tỉnh thấp hơn 9,14 điểm so với mức trung bình cả nước (21,66). Dù vậy, kết quả tổng thể đi kèm một điểm đáng chú ý: doanh nghiệp trong tỉnh vẫn thể hiện mức độ chủ động nhất định trong việc tận dụng FTA, với hình thức tận dụng FTA xếp hạng 2 và mức độ tận dụng FTA xếp hạng 5 cả nước. Tuy nhiên, dường như hệ thống hỗ trợ thể chế chưa theo kịp với nhu cầu và năng lực khai thác ấy, khi khoảng cách lớn nhất nằm ở thực thi pháp luật và tiếp cận thông tin - khi cả hai trụ cột đều xếp hạng 34, trong khi PTBV còn nhiều hạn chế về hiểu biết, chuẩn bị và hỗ trợ thực tiễn.
Phân tích chi tiết theo chỉ số thành phần
Quảng Trị ghi nhận kết quả khá phân hóa ở trụ cột này. Về cụ thể, doanh nghiệp vẫn tiếp cận được một số nguồn thông tin trực tiếp từ CQNN và các thông tin dự báo - định hướng thị trường FTA, với hai chỉ tiêu này cùng xếp hạng 9 cả nước. Tuy nhiên, các kênh truyền tải rộng hơn về FTA chưa phát huy hiệu quả tương xứng, khi mức độ hiểu biết về FTA của doanh nghiệp xếp hạng 30, hình thức tiếp cận thông tin về FTA xếp hạng 32, hình thức tiếp cận thông tin về sự kiện truyền thông và mức độ biết đến cổng điện tử xếp hạng 34.
Mức độ tham gia vào các hoạt động truyền thông FTA còn hạn chế ở hầu hết các nhóm. Website và MXH là những kênh được sử dụng phổ biến hơn, đặc biệt trong nhóm doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp tư nhân. Trong khi đó, cổng thông tin điện tử, chương trình tập huấn, ấn phẩm in và tài khoản Zalo của cơ quan địa phương tiếp cận được rất ít doanh nghiệp. Chất lượng thông tin nhìn chung chủ yếu được đánh giá ở mức trung bình, cho thấy doanh nghiệp có tiếp xúc với thông tin FTA nhưng nội dung cung cấp cần được cải thiện hơn nữa.
Quảng Trị đang trong giai đoạn cần củng cố thêm các hoạt động hướng dẫn và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Mức độ nắm rõ VBPL thực thi FTA của doanh nghiệp xếp hạng 32, trong khi tần suất hướng dẫn VBPL xếp hạng 34 cả nước. Chất lượng hướng dẫn và mức độ tham gia đào tạo, tập huấn cùng xếp hạng 30, cho thấy các hoạt động phổ biến và giải thích quy định FTA chưa được triển khai đủ thường xuyên tới cộng đồng doanh nghiệp. Dù vậy, các chỉ tiêu về phản hồi chính sách và phản hồi từ CQNN để cập nhật VBPL có kết quả tương đối tốt hơn, cho thấy vẫn đã có một số kênh đối thoại bước đầu giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
mức độ hiểu biết về các cam kết FTA còn chưa đồng đều giữa các nhóm. Nhiều doanh nghiệp mới dừng ở mức nhận biết cơ bản đối với các nội dung như quy tắc xuất xứ, SPS, TBT, SHTT, phòng vệ thương mại, lao động và môi trường. Hoạt động hướng dẫn cũng chưa tiếp cận thường xuyên tới nhiều nhóm doanh nghiệp, khiến mức độ cập nhật và khả năng áp dụng quy định còn hạn chế. Doanh nghiệp quy mô lớn có mức độ hiểu biết nhỉnh hơn, nhưng nhìn chung vẫn cần thêm các hình thức hướng dẫn rõ ràng và thực tiễn hơn để hỗ trợ quá trình thực thi FTA.
Doanh nghiệp trong tỉnh thể hiện mức độ sử dụng FTA tương đối tích cực, với tận dụng FTA đã ký kết xếp hạng 5 và hình thức tận dụng FTA xếp hạng 2 cả nước. Tuy nhiên, mức độ khai thác các cam kết cụ thể còn thấp, khi chỉ tiêu này xếp hạng 33 cả nước. Đồng thời, khả năng tiếp cận và hiệu quả của chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh chưa thực sự nổi bật. Chú ý hơn cả, chỉ tiêu về rào cản trong việc tận dụng FTA được ghi nhận khá rõ rệt, cho thấy doanh nghiệp trong tỉnh vẫn còn gặp một số khó khăn trong quá trình tiếp cận các lợi ích từ FTA.
Các lợi ích từ FTA được doanh nghiệp sử dụng nhiều nhất là ưu đãi thuế quan và các biện pháp thuận lợi hóa thương mại. Những nội dung phức tạp hơn như TBT, SPS, phòng vệ thương mại, SHTT, lao động, môi trường và quy tắc xuất xứ được khai thác ít hơn, đặc biệt trong nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp tư nhân trong nước. Doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp FDI có năng lực tiếp cận tốt hơn, nhưng mức độ hiểu biết về các cam kết FTA chuyên sâu nhìn chung vẫn còn hạn chế.
Nhìn chung, doanh nghiệp tại Quảng Trị đã nhận thấy tác động và vai trò của các cam kết PTBV đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, họ vẫn cần được hỗ trợ thêm về nền tảng thông tin và các chương trình tập huấn thực tiễn để hiểu rõ hơn cách đáp ứng các tiêu chuẩn này, khi mức độ hiểu biết về SDG, mức độ chuẩn bị tuân thủ và hiệu quả hỗ trợ trong tuân thủ cam kết PTBV đều xếp hạng 34 cả nước.
Doanh nghiệp quy mô lớn và doanh nghiệp FDI có mức độ hiểu biết tốt hơn về các yêu cầu mới như EUDR, CSDDD và CBAM. Trong khi đó, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp tư nhân trong nước thường còn chưa rõ hoặc chưa nắm được đầy đủ các nội dung này. Nhóm doanh nghiệp lớn và FDI cũng dự kiến tác động mạnh hơn từ các cam kết về lao động, môi trường và đa dạng sinh học đối với hoạt động kinh doanh.