Lai Châu
Kết quả triển khai Hiệp định Thương mại Tự do tại địa phương
Tổng quan kết quả
Lai Châu đạt 28,17/40 điểm, thuộc nhóm “Tốt” và xếp hạng 6/34 tỉnh, thành phố. Đây là kết quả đặc biệt đáng ghi nhận đối với một tỉnh miền núi, quy mô kinh tế còn hạn chế và nằm xa các trung tâm lớn. Lai Châu thuộc tốp 5 cả nước ở cả bốn trụ cột, vượt qua nhiều địa phương có điều kiện kinh tế thuận lợi hơn. Kết quả cho thấy những bất lợi về vị trí địa lý và quy mô không nhất thiết cản trở quá trình thực thi FTA khi bộ máy hành chính địa phương hoạt động chủ động, hỗ trợ có trọng tâm và duy trì sự gắn kết chặt chẽ với cộng đồng doanh nghiệp.
Phân tích chi tiết theo chỉ số thành phần
Lai Châu dẫn đầu cả nước về phổ biến thông tin FTA, khi các hình thức tiếp cận thông tin (A3) và nguồn thông tin về sự kiện truyền thông (A6) đều xếp hạng 1. Tỉnh cũng nằm trong tốp 5 về mức độ hiểu biết của doanh nghiệp (A1, hạng 4), tần suất tham gia sự kiện truyền thông (A5, hạng 3) và chất lượng thông tin được cung cấp so với nhu cầu của doanh nghiệp (A4, hạng 5). Mặc dù thông tin dự báo, định hướng xuất nhập khẩu (A8, hạng 14) và thông tin trên cổng điện tử địa phương (A9, hạng 9) có thứ hạng thấp hơn, kết quả tổng thể vẫn phản ánh một bộ máy hành chính năng động, chủ động đưa thông tin đến doanh nghiệp. Mức độ hài lòng cao của doanh nghiệp nhỏ cũng cho thấy nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc bảo đảm thông tin dễ tiếp cận và bao trùm.
Hoạt động truyền thông FTA tại Lai Châu có độ bao phủ rộng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và mạng xã hội, với mỗi kênh đều tiếp cận 100% doanh nghiệp được khảo sát. Ngược lại, chưa có doanh nghiệp nào ghi nhận tiếp cận thông tin qua kênh Zalo của địa phương, trong khi các trang thông tin điện tử chỉ tiếp cận 46,2% doanh nghiệp. Mức độ tham gia các sự kiện truyền thông cũng rất tích cực: 100% doanh nghiệp tham dự ít nhất ở mức không thường xuyên và 84,6% tham gia thường xuyên. Doanh nghiệp nhỏ tham gia tích cực hơn doanh nghiệp vừa, với tỷ lệ tham gia thường xuyên lần lượt là 100% và 60%.
Mức độ nắm rõ các văn bản pháp luật thực thi cam kết FTA của doanh nghiệp (B1) dẫn đầu cả nước. Lai Châu cũng đạt thứ hạng cao về tần suất hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước (B2, hạng 4), chất lượng hướng dẫn các VBPL thực thi FTA (B3, hạng 5), tần suất tham gia tập huấn (B5, hạng 3), tần suất doanh nghiệp tham gia phản hồi, góp ý về VBPL thực thi cam kết (B6, hạng 3) và mức độ cơ quan nhà nước ghi nhận, tiếp thu ý kiến doanh nghiệp (B7, hạng 3). Tuy nhiên, xét về mức độ phức tạp khi tuân thủ (B4) chỉ xếp hạng 33. Điều này cho thấy dù được cung cấp thông tin và hướng dẫn tích cực, doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc chuyển hóa hiểu biết pháp luật thành năng lực tuân thủ trên thực tế, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và còn hạn chế kinh nghiệm xuất khẩu.
Kết quả khảo sát cho thấy 100% doanh nghiệp nắm rõ các quy định về ưu đãi thuế quan, quy tắc xuất xứ, SPS, TBT, sở hữu trí tuệ, phòng vệ thương mại và quy định về lao động. Đồng thời, 100% doanh nghiệp cho biết thường xuyên hoặc rất thường xuyên nhận được hướng dẫn của chính quyền địa phương trên tất cả các lĩnh vực pháp lý được khảo sát; chất lượng hướng dẫn cũng được 100% doanh nghiệp đánh giá ở mức tốt hoặc rất tốt. Chính quyền địa phương đặc biệt tích cực hỗ trợ các cam kết mới như sở hữu trí tuệ, phòng vệ thương mại và môi trường.
Lai Châu dẫn đầu cả nước về hệ sinh thái hỗ trợ tận dụng FTA, với khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ của địa phương (C6) xếp hạng 1. Hiệu quả của các chính sách hỗ trợ (C7) xếp hạng 3, khả năng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ của doanh nghiệp (C8) xếp hạng 2, trong khi chất lượng và tần suất xúc tiến thương mại đều đứng hạng 3. Mức độ tận dụng FTA do doanh nghiệp tự đánh giá (C1, hạng 9) và sự đa dạng trong hình thức tận dụng (C3, hạng 5) tiếp tục khẳng định hiệu quả của hệ sinh thái này. Những trở ngại chính đối với doanh nghiệp nhỏ gồm khó đáp ứng yêu cầu về chứng nhận xuất xứ (C/O), tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật của đối tác FTA và tiếp cận tín dụng. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp đánh giá thông tin hỗ trợ là hiệu quả và phù hợp với nhu cầu, cho thấy cách tiếp cận chủ động và có trọng tâm của địa phương đã góp phần khắc phục đáng kể những hạn chế về quy mô và vị trí địa lý.
Việc tận dụng FTA của doanh nghiệp Lai Châu hiện tập trung chủ yếu vào các cam kết tiếp cận thị trường truyền thống. 100% doanh nghiệp khai thác ưu đãi thuế quan, trong khi 76,9% tận dụng quy tắc xuất xứ và SPS. Doanh nghiệp nhỏ chỉ tập trung vào ba nhóm cam kết này, còn doanh nghiệp vừa đã bước đầu mở rộng sang các cam kết khác nhưng mức độ đa dạng vẫn hạn chế. Các chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương nhận được khoảng 83–85% đánh giá tích cực; tuy nhiên, mức độ hài lòng có sự khác biệt đáng kể theo quy mô, đạt 100% ở doanh nghiệp nhỏ nhưng chỉ 60% ở doanh nghiệp vừa.
Lai Châu ghi nhận kết quả nổi bật và vượt mức trung bình cả nước trên tất cả các chỉ tiêu về phát triển bền vững. Nhận thức của doanh nghiệp về tác động của các cam kết phát triển bền vững (D2) dẫn đầu cả nước; mức độ hiểu biết (D1), mức độ sẵn sàng đáp ứng quy định về PTBV (D3) và hỗ trợ của cơ quan nhà nước (D4) cùng xếp hạng 3; chất lượng hỗ trợ (D6) xếp hạng 6. Chỉ tiêu về tầm quan trọng của việc tuân thủ (D5) xếp hạng 14, gần hơn với mức trung bình cả nước. Năng lực này tạo lợi thế cạnh tranh quan trọng cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm sản sang những thị trường có tiêu chuẩn cao thuộc EVFTA và CPTPP. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ cảm nhận tác động của các cam kết này đến hoạt động kinh doanh thấp hơn doanh nghiệp vừa, cho thấy nhận thức vẫn chưa đồng đều giữa các nhóm quy mô.
Mức độ hiểu biết về các cam kết phát triển bền vững nhìn chung rất cao: 100% doanh nghiệp cho biết hiểu ít nhất một phần về cả 10 lĩnh vực được khảo sát, bao gồm EUDR, SCDDD, CBAM và kinh tế tuần hoàn. Có 41,7% doanh nghiệp đánh giá các yêu cầu tuân thủ tạo ra tác động lớn hoặc rất lớn trên tất cả các lĩnh vực, trong đó tỷ lệ này ở doanh nghiệp vừa đạt 40%, cao hơn mức 25% của doanh nghiệp nhỏ. Hoạt động hỗ trợ của địa phương cũng nhận được phản hồi đặc biệt tích cực: 100% doanh nghiệp đánh giá hỗ trợ là hiệu quả hoặc rất hiệu quả trên cả 11 lĩnh vực và không doanh nghiệp nào cho biết chưa nhận được hỗ trợ. Đồng thời, 91,7% doanh nghiệp nhận định việc tuân thủ các yêu cầu phát triển bền vững có ý nghĩa thương mại, gắn trực tiếp với xây dựng thương hiệu, tìm kiếm đối tác, ký kết hợp đồng và chi phí kinh doanh.