Huế
Kết quả triển khai Hiệp định Thương mại Tự do tại địa phương
Tổng quan kết quả
Huế đạt 15,55/40 điểm, thuộc nhóm “Trung bình” và xếp hạng 28/34 tỉnh, thành phố, thấp hơn 6,11 điểm so với mức trung bình cả nước. Kết quả cho thấy một nghịch lý rõ rệt: doanh nghiệp chủ động tận dụng FTA, với mức độ tận dụng (C1) xếp hạng 11 và sự đa dạng của các hình thức tận dụng (C3) xếp hạng 7, nhưng hệ thống hỗ trợ thể chế chưa phát triển tương xứng. Khoảng cách lớn nhất nằm ở trụ cột phát triển bền vững (−2,23 điểm) và thực thi pháp luật (−2,03 điểm). Ưu tiên chính sách cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng hướng dẫn văn bản pháp luật (VBPL), mở rộng xúc tiến thương mại và xây dựng năng lực đáp ứng các quy định phát triển bền vững (PTBV).
Phân tích chi tiết theo chỉ số thành phần
Nguồn thông tin từ cơ quan nhà nước (A2, hạng 12) và sự đa dạng của các hình thức tiếp cận (A3, hạng 10) cho thấy Huế đã hình thành được các kênh truyền tải thông tin cơ bản. Tuy nhiên, chất lượng thông tin được cung cấp so với nhu cầu doanh nghiệp (A4) chỉ xếp hạng 24, chất lượng sự kiện truyền thông về FTA (A7) xếp hạng 27, chất lượng thông tin FTA trên cổng điện tử địa phương (A9) xếp hạng 25 và thông tin dự báo, định hướng xuất nhập khẩu (A8) xếp hạng 22. Nhìn chung, hệ thống thông tin đã có độ bao phủ nhất định nhưng chất lượng và chiều sâu thông tin vẫn còn hạn chế.
Báo chí và truyền hình là kênh phổ biến nhất, tiếp cận 79,7% doanh nghiệp, tiếp đến là mạng xã hội (69,5%). Trang thông tin điện tử và hội nghị tiếp cận khoảng một nửa số doanh nghiệp, trong khi tập huấn chỉ đạt 18,6%. Chưa đến một nửa doanh nghiệp (47,5%) tham dự sự kiện FTA ít nhất ở mức không thường xuyên và chỉ 5,1% tham gia thường xuyên. Doanh nghiệp lớn và FDI tham gia tích cực hơn doanh nghiệp vừa và tư nhân. Đối với thông tin dự báo, độ tin cậy nhận được 54,5% đánh giá tích cực, nhưng chất lượng tổng thể, tính cụ thể và tính kịp thời chỉ đạt khoảng 41–46%. Kết quả này phản ánh sự thiếu đồng đều trong khả năng tiếp cận và hưởng lợi từ thông tin giữa các nhóm doanh nghiệp.
Đây là một trong những trụ cột yếu nhất của Huế. Mức độ nắm rõ các VBPL thực thi FTA (B1), tần suất hướng dẫn VBPL (B2) và mức độ phức tạp khi tuân thủ VBPL (B4) cùng xếp hạng 29, trong khi mức độ doanh nghiệp tham gia phản hồi, góp ý (B6) xếp hạng 30. Ngay cả các chỉ tiêu có kết quả khả quan hơn, gồm chất lượng hướng dẫn VBPL (B3) và mức độ tham gia tập huấn (B5), cũng chỉ xếp hạng 24. Điều này cho thấy cả kiến thức pháp lý, tần suất hỗ trợ và sự tham gia của doanh nghiệp đều chưa đáp ứng yêu cầu thực thi FTA.
Cụ thể, chỉ khoảng 14–31% doanh nghiệp nắm rõ từng lĩnh vực pháp luật chủ yếu, trong khi 56–72% hoàn toàn chưa biết hoặc chỉ có hiểu biết cơ bản. Khoảng trống lớn nhất nằm ở sở hữu trí tuệ và SPS; mức độ hiểu biết của doanh nghiệp FDI cũng thấp trên hầu hết các lĩnh vực. Chỉ 12–27% doanh nghiệp thường xuyên nhận được hướng dẫn VBPL, và không doanh nghiệp FDI nào cho biết thường xuyên được hướng dẫn về SPS, TBT, sở hữu trí tuệ hoặc phòng vệ thương mại. Đồng thời, khoảng 66–85% doanh nghiệp đánh giá các quy định khá phức tạp. Các yêu cầu về SPS, TBT, lao động, môi trường và quy định nội luật hóa mới vì vậy vẫn là gánh nặng đáng kể đối với doanh nghiệp.
Trụ cột này phản ánh rõ nhất nghịch lý trong thực thi FTA của Huế. Mức độ tận dụng FTA do doanh nghiệp tự đánh giá (C1) xếp hạng 11 và sự đa dạng của các hình thức tận dụng (C3) xếp hạng 7, thuộc nhóm kết quả tốt nhất so với trung bình cả nước. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ (C6), hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ của cơ quan QLNN địa phương (C7) và chất lượng xúc tiến thương mại (C9.2) cùng chỉ xếp hạng 29. Doanh nghiệp đang khai thác FTA chủ yếu bằng năng lực riêng, trong khi hệ thống hỗ trợ tại địa phương chưa tạo được tác động thúc đẩy rõ rệt.
Hoạt động tận dụng tập trung vào ưu đãi thuế quan (84,7%) và quy tắc xuất xứ (61%), tiếp theo là thuận lợi hóa thương mại (33,9%). Trong khi đó, 52,5% doanh nghiệp thiếu thông tin về thị trường FTA, 49,2% chưa hiểu rõ các cam kết và 42,4% gặp khó khăn trong tiếp cận đối tác. Doanh nghiệp FDI đối mặt nhiều hơn với quy tắc xuất xứ và tiêu chuẩn kỹ thuật từ các đối tác FTA, còn doanh nghiệp nhỏ và tư nhân chịu hạn chế lớn về thông tin, công nghệ, vốn và tiếp cận thị trường. Hoạt động xúc tiến thương mại cũng chưa tạo ra kết quả: chỉ 27–30% đánh giá tích cực mức độ phù hợp của chương trình và chất lượng tài liệu, trong khi tỷ lệ ghi nhận hiệu quả thương mại thu được (tìm được đối tác, ký kết hợp đồng) sau chương trình chỉ đạt 9,1%, trong đó không có doanh nghiệp nhỏ hoặc vừa nào phản hồi tích cực.
Đây là trụ cột yếu nhất của Huế. Chất lượng các hình thức hỗ trợ (D6) xếp hạng 32, nhận thức về tác động đối với hoạt động kinh doanh (D2) xếp hạng 31, hiệu quả hỗ trợ của cơ quan nhà nước (D4) xếp hạng 30, mức độ hiểu biết (D1) xếp hạng 29 và mức độ sẵn sàng đáp ứng (D3) xếp hạng 28. Chỉ tiêu khả quan nhất là nhận thức về tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy định phát triển bền vững tại thị trường nhập khẩu (D5), xếp hạng 19. Doanh nghiệp đã bước đầu nhận diện tầm quan trọng của tuân thủ nhưng còn thiếu kiến thức, sự chuẩn bị và hỗ trợ để chuyển nhận thức thành hành động.
Mức độ hiểu biết về các cam kết lao động và môi trường chỉ đạt khoảng 33–35%, trong khi hiểu biết về quản lý rừng, EUDR, CBAM và các yêu cầu chuyên biệt khác giảm xuống còn 15–25%. Tác động lớn được ghi nhận chủ yếu ở môi trường (23,7%) và EUDR (22%), trong khi CBAM chỉ đạt 6,9%. Hỗ trợ của địa phương được đánh giá tích cực nhất đối với tuân thủ môi trường (59,3%) nhưng chỉ đạt khoảng 34–46% ở phần lớn các lĩnh vực chuyên biệt. Khoảng 42–48% doanh nghiệp cho biết chưa nhận được hỗ trợ về CBAM, thủy sản và quản lý rừng. Khoảng trống này đặc biệt đáng lưu ý đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, gỗ và dệt may.