Hải Phòng
Kết quả triển khai Hiệp định Thương mại Tự do tại địa phương
Tổng quan kết quả
Hải Phòng đạt 35,62/40 điểm, dẫn đầu FTA Index 2025 và là địa phương duy nhất thuộc nhóm “Rất tốt”. Thành phố xếp hạng 1/34, cao hơn 13,96 điểm so với mức trung bình cả nước. Hải Phòng dẫn đầu ở hai trụ cột tiếp cận thông tin và thực thi pháp luật, đồng thời đứng đầu cả nước ở 16 chỉ tiêu thành phần. Kết quả mang tính toàn diện, phản ánh vị thế của một trung tâm cảng biển, công nghiệp và logistics hàng đầu miền Bắc, đồng thời cho thấy hiệu quả của hệ thống thực thi FTA tại địa phương. Thách thức tiếp theo không còn nằm ở việc xây dựng nền tảng hỗ trợ, mà ở việc mở rộng phạm vi và nâng cao chiều sâu tận dụng FTA của doanh nghiệp.
Phân tích chi tiết theo chỉ số thành phần
Hải Phòng dẫn đầu cả nước về mức độ hiểu biết của doanh nghiệp đối với FTA (A1), tần suất tham gia sự kiện truyền thông về FTA (A5), chất lượng sự kiện truyền thông (A7) và chất lượng thông tin FTA trên cổng điện tử địa phương (A9). Chất lượng thông tin được cung cấp so với nhu cầu doanh nghiệp (A4) và thông tin dự báo, định hướng xuất nhập khẩu (A8) cùng xếp hạng 2. Chỉ tiêu còn hạn chế tương đối là sự đa dạng của các hình thức tiếp cận thông tin (A3), xếp hạng 24.
Các kênh truyền thông có độ bao phủ đặc biệt rộng: hội nghị tiếp cận 96,4% doanh nghiệp, tập huấn đạt 91,4%, còn trang thông tin điện tử và mạng xã hội đều đạt khoảng 80%. Zalo Official Account của địa phương cũng được 69,1% doanh nghiệp sử dụng. Thông tin từ cơ quan trung ương và địa phương đáp ứng phần lớn hoặc đầy đủ nhu cầu của lần lượt 87,7% và 95,7% doanh nghiệp. Thông báo của chính quyền địa phương tiếp cận 94,2% doanh nghiệp, cổng thông tin của cơ quan nhà nước đạt 83,5% và hiệp hội doanh nghiệp đạt 74,8%. Chất lượng sự kiện nhận được ít nhất 97% đánh giá tốt hoặc rất tốt trên mọi nội dung.
Hải Phòng dẫn đầu cả nước về tần suất hướng dẫn VBPL (B2), chất lượng hướng dẫn VBPL (B3), mức độ phức tạp khi tuân thủ (B4), mức độ tham gia tập huấn thực thi VBPL (B5) và khả năng cơ quan nhà nước ghi nhận, tiếp thu ý kiến doanh nghiệp (B7). Mức độ nắm rõ VBPL (B1) và sự tham gia phản hồi, góp ý của doanh nghiệp (B6) cùng xếp hạng 2. Kết quả phản ánh một hệ thống đồng hành pháp lý có độ bao phủ, chất lượng và khả năng tương tác đặc biệt cao.
Gần như toàn bộ doanh nghiệp nắm rõ ưu đãi thuế quan và quy tắc xuất xứ, với tỷ lệ 97,8–99,3%. Hiểu biết về TBT, sở hữu trí tuệ, phòng vệ thương mại và quy định về lao động đạt 88–91%, trong khi SPS và quy định về môi trường vẫn là hai khoảng trống tương đối, lần lượt đạt 71,9% và 74,8%; cao hơn đáng kể so với mức trung bình cả nước. Chất lượng hướng dẫn nhận được 90,6–97,1% đánh giá tích cực trong 5 lĩnh vực chính. Gánh nặng tuân thủ tập trung vào các quy định kỹ thuật và chuyên sâu: chỉ 4–5% doanh nghiệp đánh giá thuế quan hoặc quy tắc xuất xứ là phức tạp, nhưng tỷ lệ này tăng lên 26–34% đối với sở hữu trí tuệ, lao động, SPS và quy định về môi trường.
Hải Phòng dẫn đầu cả nước về mức độ tận dụng FTA (C1), hiệu quả chính sách hỗ trợ (C7), tần suất xúc tiến thương mại (C9.1) và chất lượng xúc tiến thương mại (C9.2); đồng thời xếp hạng 2 về khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ (C6). Các kết quả này cho thấy hệ thống chính sách không chỉ có độ bao phủ cao mà còn tạo ra tác động tích cực đối với doanh nghiệp.
Khoảng trống còn lại nằm ở sự đa dạng của các hình thức tận dụng (C3, hạng 7), số nhóm cam kết được khai thác (C4, hạng 11) và mức độ rào cản (C5, hạng 26). Việc tận dụng tập trung chủ yếu vào quy tắc xuất xứ (93,5%), ưu đãi thuế quan (92,1%) và thuận lợi hóa thương mại (60,4%); tất cả các cam kết khác đều dưới 15%, trong khi không doanh nghiệp nào lựa chọn TBT trong nhóm cam kết được sử dụng nhiều nhất. Các rào cản chủ yếu gồm thiếu vốn (65,5%), không đáp ứng quy tắc xuất xứ (56,8%), tiêu chuẩn kỹ thuật (51,1%) từ các đối tác FTA và hạn chế về năng lực công nghệ (41,7%). Dù vậy, các chương trình xúc tiến thương mại, hỗ trợ thủ tục hành chính và đào tạo đều nhận được 97,7–98,5% đánh giá tích cực.
Hải Phòng dẫn đầu cả nước về hiệu quả hỗ trợ của cơ quan nhà nước (D4), nhận thức về tầm quan trọng của việc tuân thủ các yêu cầu PTBV tại thị trường nhập khẩu (D5) và chất lượng các hình thức hỗ trợ (D6). Mức độ hiểu biết về quy định PTBV (D1) và mức độ sẵn sàng đáp ứng (D3) cùng xếp hạng 2. Nhận thức về tác động đối với hoạt động kinh doanh (D2, hạng 9) là chỉ tiêu duy nhất nằm ngoài nhóm dẫn đầu tuyệt đối nhưng vẫn đạt thứ hạng cao.
Hiểu biết về các cam kết lao động và môi trường đều vượt 92%; ngay cả các yêu cầu mới như EUDR, CBAM và quản lý rừng cũng đạt khoảng 66–68%. Mức độ chuẩn bị đối với lao động, môi trường, tiêu chuẩn xanh, sự tham gia của công chúng, SCDDD và kinh tế tuần hoàn đạt 87–93%, nhưng giảm xuống còn 54–70% đối với đa dạng sinh học, EUDR, CBAM, quản lý rừng và thủy sản bền vững. Gần như toàn bộ doanh nghiệp nhận thấy tuân thủ cam kết PTBV có ý nghĩa thương mại: khoảng 97–98% liên hệ việc tuân thủ với xây dựng thương hiệu, tìm kiếm đối tác và chi phí bổ sung; 78,7% đánh giá việc này có ý nghĩa đối với ký kết hợp đồng.