Lào Cai
Kết quả triển khai Hiệp định Thương mại Tự do tại địa phương
Tổng quan kết quả
Lào Cai đạt 17,83/40 điểm, thuộc nhóm “Trung bình” và xếp hạng 24/34 tỉnh, thành phố. Là một cửa ngõ thương mại quan trọng với Trung Quốc, tỉnh có kết quả thấp hơn mức trung bình cả nước nhưng không tồn tại khoảng cách quá lớn giữa bốn trụ cột. Một số năng lực nền tảng đã được hình thành, thể hiện qua sự đa dạng của các hình thức tiếp cận thông tin xếp hạng 6, số nhóm cam kết FTA được khai thác xếp hạng 11 và hiệu quả của chính sách hỗ trợ xếp hạng 13. Điểm nghẽn chính nằm ở mức độ tham gia và chiều sâu tận dụng FTA của doanh nghiệp. Mặc dù các kênh thông tin đã được thiết lập, doanh nghiệp chưa tham gia thường xuyên vào các hoạt động hỗ trợ và chưa khai thác FTA một cách đa dạng. Do đó, ưu tiên của tỉnh là thúc đẩy sự tham gia chủ động của doanh nghiệp, chuyển từ tiếp nhận thông tin cơ bản sang vận dụng hiệu quả các cam kết FTA trong hoạt động kinh doanh.
Phân tích chi tiết theo chỉ số thành phần
Hệ thống cung cấp thông tin của Lào Cai đã có nền tảng tương đối tốt. Sự đa dạng của các hình thức tiếp cận thông tin (A3) xếp hạng 6, nguồn thông tin từ cơ quan nhà nước (A2) xếp hạng 13 và chất lượng sự kiện truyền thông về FTA (A7) xếp hạng 16. Tuy nhiên, mức độ tham gia của doanh nghiệp còn hạn chế: tần suất tham gia sự kiện (A5) chỉ xếp hạng 27, nguồn thông tin về sự kiện (A6) xếp hạng 29 và mức độ hiểu biết về FTA (A1) xếp hạng 23. Điều này cho thấy các kênh thông tin đã vận hành nhưng độ bao phủ và khả năng chuyển hóa thông tin thành hiểu biết thực chất vẫn chưa cao.
Thông báo từ chính quyền địa phương là kênh chính giúp doanh nghiệp biết đến các sự kiện FTA nhưng mới tiếp cận 38,1% doanh nghiệp; mạng xã hội đóng vai trò bổ trợ với tỷ lệ 30,6%. Trong khi đó, các cơ quan trung ương, tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp và tổ chức quốc tế đều chỉ tiếp cận tối đa 10,4% doanh nghiệp. Doanh nghiệp vừa và lớn sử dụng đa dạng kênh thông tin hơn, còn doanh nghiệp nhỏ chủ yếu phụ thuộc vào kênh truyền thống như báo chí và truyền hình, trang thông tin điện tử. Doanh nghiệp lớn, FDI và doanh nghiệp nhà nước cũng đánh giá tích cực hơn về chất lượng thông tin và sự kiện, phản ánh khoảng cách đáng kể trong khả năng tiếp cận giữa các nhóm doanh nghiệp.
Chất lượng hướng dẫn VBPL (B3) và mức độ phức tạp khi tuân thủ các VBPL về thực thi FTA (B4) cùng xếp hạng 15, tương đối gần mức chung của cả nước. Tuy nhiên, mức độ nắm rõ các VBPL thực thi cam kết FTA (B1) chỉ xếp hạng 27, mức độ tham gia tập huấn (B5) xếp hạng 25 và sự tham gia phản hồi, góp ý của doanh nghiệp (B6) xếp hạng 28. Kết quả này cho thấy hoạt động hướng dẫn bước đầu được đánh giá tích cực nhưng chưa đủ thường xuyên và chuyên sâu để nâng cao hiểu biết pháp lý và thúc đẩy doanh nghiệp tham gia vào quá trình thực thi chính sách.
Chỉ khoảng 12–21% doanh nghiệp nắm rõ các lĩnh vực pháp luật chủ yếu, trong khi 60–69% hoàn toàn chưa biết hoặc chỉ có hiểu biết cơ bản. Doanh nghiệp nhỏ có mức độ hiểu biết thấp nhất về các quy định tiếp cận thị trường cốt lõi, trong khi doanh nghiệp lớn và FDI nắm rõ hơn về quy tắc xuất xứ. Hoạt động hướng dẫn của chính quyền địa phương chưa được triển khai thường xuyên; 35% doanh nghiệp FDI và 25% doanh nghiệp lớn cho biết chưa nhận được hướng dẫn. Đồng thời, khoảng 54–61% doanh nghiệp đánh giá các quy định là phức tạp, tỷ lệ này tăng lên 63–74% ở doanh nghiệp nhỏ. Ngay cả doanh nghiệp lớn cũng gặp khó khăn với các cam kết về sở hữu trí tuệ, SPS, TBT, lao động và môi trường.
Đây là trụ cột có kết quả khả quan nhất và khoảng cách nhỏ nhất so với mức trung bình cả nước. Số nhóm cam kết được khai thác (C4) xếp hạng 11, trong khi mức độ rào cản (C5) và hiệu quả chính sách hỗ trợ (C7) cùng xếp hạng 13. Tuy nhiên, sự đa dạng của các hình thức tận dụng FTA (C3) chỉ xếp hạng 29 và khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ địa phương (C6) xếp hạng 24. Như vậy, doanh nghiệp đã khai thác được một số cam kết FTA nhưng phạm vi tận dụng còn hẹp, trong khi chính sách hỗ trợ chưa tiếp cận đồng đều các nhóm doanh nghiệp.
Các trở ngại chính đối với doanh nghiệp nhỏ gồm thiếu hiểu biết về cam kết FTA, thiếu thông tin thị trường và khó kết nối với đối tác tại các nước thành viên. Trong khi đó, doanh nghiệp lớn và FDI nhấn mạnh tình trạng thiếu nguồn tư vấn đáng tin cậy. Hỗ trợ xúc tiến thương mại nhận được tỷ lệ đánh giá tích cực cao nhất, đạt 56,9%, trong khi hỗ trợ đào tạo và tài chính chỉ đạt lần lượt 36,2% và 33,3%. Doanh nghiệp vừa nhìn chung hài lòng nhất, còn doanh nghiệp lớn và FDI đánh giá tương đối thấp hiệu quả hỗ trợ về đào tạo, công nghệ và tài chính. Những khác biệt này cho thấy chính sách cần được thiết kế sát hơn với nhu cầu riêng của từng nhóm doanh nghiệp.
Kết quả của Lào Cai tương đối gần mức trung bình cả nước về hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu phát triển bền vững. Chất lượng hỗ trợ (D6) xếp hạng 17, hiệu quả hỗ trợ của cơ quan nhà nước (D4) xếp hạng 20 và mức độ hiểu biết (D1) xếp hạng 22. Tuy nhiên, nhận thức về tác động đối với hoạt động kinh doanh (D2) chỉ xếp hạng 25, trong khi mức độ sẵn sàng đáp ứng (D3) và nhận thức về tầm quan trọng của việc tuân thủ (D5) cùng xếp hạng 26. Khoảng cách chủ yếu vì vậy không nằm ở sự hiện diện của hỗ trợ công, mà ở khả năng chuyển hóa hỗ trợ thành nhận thức và hành động cụ thể của doanh nghiệp.
Khoảng 41–44% doanh nghiệp có hiểu biết về các cam kết lao động và môi trường, nhưng tỷ lệ hiểu biết đối với các lĩnh vực còn lại chỉ đạt 27–36%. Doanh nghiệp lớn nắm rõ hơn các yêu cầu về quản lý rừng, EUDR, SCDDD và CBAM; trong khi doanh nghiệp vừa còn hạn chế về tài nguyên biển, sự tham gia của công chúng và kinh tế tuần hoàn. Chỉ khoảng 17–34% doanh nghiệp đã xây dựng ít nhất một kế hoạch đáp ứng các yêu cầu phát triển bền vững. Doanh nghiệp lớn và FDI nhìn chung có sự chuẩn bị tốt hơn, còn tỷ lệ chuẩn bị của doanh nghiệp vừa thấp hơn 30% trong tất cả các lĩnh vực. Đáng lưu ý, hiểu biết về quản lý rừng bền vững, CITES và tiêu chuẩn xanh vẫn còn hạn chế, mặc dù đây là những yêu cầu liên quan trực tiếp đến các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của địa phương.