Hà Nội
Kết quả triển khai Hiệp định Thương mại Tự do tại địa phương
Tổng quan kết quả
Hà Nội đạt 25,39/40 điểm, thuộc nhóm “Khá” và xếp hạng 9/34 tỉnh, thành phố, cao hơn 3,73 điểm so với mức trung bình cả nước. Cả bốn trụ cột đều đạt điểm số trên trung bình, song thứ hạng chỉ dao động từ hạng 7 đến hạng 13. Thế mạnh của Hà Nội tập trung ở thông tin dự báo và định hướng thị trường, mức độ nắm rõ các văn bản pháp luật và năng lực tận dụng FTA của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các kênh thông tin chính thức, mức độ tham gia tập huấn và phản hồi chính sách, hoạt động xúc tiến thương mại và sự sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu phát triển bền vững (PTBV) vẫn còn hạn chế. Thách thức của Hà Nội không nằm ở sự thiếu hụt nguồn lực, mà ở khả năng chuyển hóa những lợi thế riêng lẻ thành năng lực thực thi đồng bộ trên toàn hệ thống.
Phân tích chi tiết theo chỉ số thành phần
Chất lượng thông tin dự báo, định hướng xuất nhập khẩu (A8) là chỉ tiêu nổi bật nhất, xếp hạng 6 cả nước. Mức độ hiểu biết của doanh nghiệp về FTA (A1, hạng 12) và sự đa dạng của các hình thức tiếp cận thông tin (A3, hạng 11) cũng đạt kết quả trên trung bình. Tuy nhiên, chất lượng thông tin FTA trên cổng điện tử địa phương (A9) và tần suất tham gia sự kiện truyền thông về FTA (A5) cùng xếp hạng 21, trong khi nguồn thông tin từ cơ quan nhà nước (A2) chỉ xếp hạng 25. Điều này cho thấy Hà Nội có nguồn thông tin thị trường tương đối tốt nhưng các kênh truyền tải chính thức chưa tiếp cận doanh nghiệp đủ rộng và thường xuyên.
Báo chí và truyền hình là kênh phổ biến nhất, tiếp cận 78,6% doanh nghiệp, tiếp theo là hội nghị, hội thảo (63,4%) và trang thông tin điện tử (57,1%). Các kênh thông tin tiếp cận khác biệt rõ theo nhóm doanh nghiệp: 84,6% doanh nghiệp nhỏ chủ yếu sử dụng mạng xã hội, trong khi 85,7% doanh nghiệp lớn và 90,9% doanh nghiệp FDI tiếp cận qua trang thông tin điện tử. Dưới 50% doanh nghiệp cho rằng thông tin FTA đáp ứng phần lớn hoặc đầy đủ nhu cầu; thông tin từ cơ quan trung ương được đánh giá tích cực hơn thông tin từ cơ quan tại địa phương, ở mức 45,3% so với 37,4%. Chỉ 13,9% doanh nghiệp tham gia thường xuyên hoặc rất thường xuyên. Đối với thông tin dự báo, độ tin cậy được đánh giá cao nhất (63,3%), trong khi tính kịp thời chỉ đạt 45,3% đánh giá tích cực.
Mức độ nắm rõ các VBPL thực thi cam kết FTA (B1) xếp hạng 7, còn chất lượng hướng dẫn pháp luật (B3) xếp hạng 11. Tuy nhiên, mức độ tham gia tập huấn VBPL (B5), phản hồi, góp ý của doanh nghiệp (B6) và khả năng cơ quan QLNN tại địa phương ghi nhận, tiếp thu ý kiến doanh nghiệp (B7) chỉ xếp từ hạng 22 đến hạng 24. Hà Nội vì vậy có nền tảng hiểu biết pháp lý tương đối tốt, nhưng sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình thực thi và hoàn thiện chính sách vẫn chưa tương xứng.
Mức độ hiểu biết còn phân hóa đáng kể giữa các lĩnh vực. Chỉ khoảng 45,8–48,1% doanh nghiệp nắm rõ ưu đãi thuế quan và quy tắc xuất xứ; tỷ lệ này giảm xuống còn 29,3–42,7% đối với SPS, TBT, sở hữu trí tuệ, phòng vệ thương mại, quy định về lao động và môi trường. Hoạt động hướng dẫn thường xuyên tiếp cận chưa đến 30% doanh nghiệp ở tất cả các lĩnh vực; riêng môi trường và sở hữu trí tuệ chỉ đạt lần lượt 15,1% và 21,2%. Đồng thời, khoảng 55–73% doanh nghiệp vẫn đánh giá các quy định pháp luật chủ yếu là phức tạp. Doanh nghiệp nhỏ gặp nhiều khó khăn với SPS và môi trường, trong khi doanh nghiệp lớn và FDI cũng phản ánh gánh nặng đáng kể liên quan đến SPS, TBT, sở hữu trí tuệ, thuế quan và quy tắc xuất xứ.
Doanh nghiệp Hà Nội thể hiện năng lực tận dụng FTA tương đối tốt, với rào cản tận dụng (C5) xếp hạng 5, sự đa dạng của các hình thức tận dụng (C3) xếp hạng 6 và số nhóm cam kết được khai thác (C4) xếp hạng 7. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ (C6) chỉ xếp hạng 22, còn tần suất xúc tiến thương mại (C9.1) xếp hạng 24. Kết quả này cho thấy năng lực tận dụng FTA hiện chủ yếu đến từ sự chủ động của doanh nghiệp, trong khi vai trò thúc đẩy của hệ thống hỗ trợ địa phương vẫn còn hạn chế.
Hoạt động tận dụng tập trung chủ yếu vào ưu đãi thuế quan (71,4%) và quy tắc xuất xứ (69,3%), trong khi TBT chỉ đạt 9,7% và SPS đạt 14,7%. 48,3% doanh nghiệp phản hồi rào cản tận dụng FTA do thiếu thông tin thị trường FTA, 40,3% chưa hiểu rõ các cam kết và 37% thiếu khả năng tiếp cận đối tác hoặc nguồn tư vấn đáng tin cậy. Nhu cầu hỗ trợ tập trung vào xúc tiến thương mại (65,1%), hỗ trợ hỗ trợ riêng cho các doanh nghiệp đang trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu từ các thị trường FTA (59,7%) và đào tạo về quy tắc xuất xứ, thủ tục FTA (55,5%). Doanh nghiệp FDI đặc biệt quan tâm đến hỗ trợ xuất nhập khẩu trực tiếp, trong khi doanh nghiệp nhỏ ưu tiên hỗ trợ về vốn và tiếp cận tín dụng.
Chất lượng các hình thức hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu PTBV (D6) xếp hạng 9. Mức độ hiểu biết về cam kết PTBV do doanh nghiệp tự đánh giá (D1, hạng 15) và nhận thức về tác động của cam kết PTBV đối với hoạt động kinh doanh (D2, hạng 14) ở mức tương đối. Tuy nhiên, mức độ sẵn sàng đáp ứng quy định về PTBV (D3) chỉ xếp hạng 21, trong khi hiệu quả hỗ trợ của cơ quan nhà nước (D4) và nhận thức về tầm quan trọng của việc tuân thủ quy định PTBV (D5) cùng xếp hạng 22. Kết quả phản ánh khoảng cách giữa nhận thức và hành động: doanh nghiệp đã bước đầu nhận diện các yêu cầu nhưng chưa chuyển hóa đầy đủ thành kế hoạch và năng lực tuân thủ thực tế.
Khoảng 52% doanh nghiệp hiểu các cam kết về lao động và môi trường, nhưng tỷ lệ này chỉ đạt 24,5–40,9% đối với đa dạng sinh học, quản lý nguồn lợi rừng bền vững CITES, EUDR, SCDDD, CBAM và kinh tế tuần hoàn. Khoảng 58–60% đã bắt đầu chuẩn bị cho các cam kết về lao động và môi trường, song tỷ lệ chuẩn bị thấp hơn 45% trong tất cả các lĩnh vực chuyên biệt và chỉ đạt 29,5% đối với CBAM. Hỗ trợ của cơ quan QLNN tại địa phương được đánh giá tích cực nhất đối với lao động (61,6%) và môi trường (60%), nhưng chỉ đạt khoảng 32–40% đối với các yêu cầu mới hoặc chuyên sâu. Doanh nghiệp FDI ghi nhận khoảng trống hỗ trợ đáng kể, với tỷ lệ chưa nhận được hỗ trợ lên tới 45,5% trong một số lĩnh vực.