Đà Nẵng
Kết quả triển khai Hiệp định Thương mại Tự do tại địa phương
Tổng quan kết quả
Đà Nẵng đạt 23,20/40 điểm, thuộc nhóm “Khá” và xếp hạng 14/34 tỉnh, thành phố, cao hơn 1,54 điểm so với mức trung bình cả nước. Hồ sơ của thành phố nổi bật ở sự cân bằng hơn là những lợi thế vượt trội: kết quả của cả bốn trụ cột đều tương đối gần mức trung bình quốc gia, trong đó thực thi pháp luật là trụ cột khả quan nhất, cao hơn trung bình 1,14 điểm. Đối với một trung tâm kinh tế ven biển, kết quả này vẫn còn khiêm tốn. Hai điểm nghẽn nổi bật là sự đa dạng của các hình thức tiếp cận thông tin (A3) xếp cuối bảng và chiều sâu tận dụng FTA còn hạn chế, khi số nhóm cam kết được khai thác (C4) và rào cản thực thi (C5) cùng xếp hạng 31.
Phân tích chi tiết theo chỉ số thành phần
Mức độ hiểu biết của doanh nghiệp về FTA (A1, hạng 13) và chất lượng thông tin FTA trên cổng điện tử địa phương (A9, hạng 10) đạt kết quả tương đối khả quan. Tuy nhiên, sự đa dạng của các hình thức tiếp cận thông tin (A3) xếp cuối cả nước; nguồn thông tin về sự kiện (A6), chất lượng sự kiện truyền thông (A7) và thông tin dự báo, định hướng xuất nhập khẩu (A8) đều thuộc nhóm hạng 20–25. Điều này cho thấy doanh nghiệp đã có nhận thức nhất định về FTA, nhưng hệ thống truyền tải thông tin vẫn thiếu độ bao phủ và chưa đáp ứng đồng đều nhu cầu của các nhóm doanh nghiệp.
Hội nghị và hội thảo tiếp cận 68,1% doanh nghiệp, mạng xã hội đạt 60,4%, còn tập huấn và trang thông tin điện tử cùng đạt 50,5%. Doanh nghiệp vừa và FDI sử dụng đa dạng kênh tiếp cận thông tin, trong khi doanh nghiệp nhỏ phụ thuộc nhiều vào mạng xã hội và ít tham gia các hoạt động đào tạo chính thức. Khoảng 48,8% doanh nghiệp cho rằng thông tin từ cơ quan trung ương và địa phương đáp ứng phần lớn hoặc đầy đủ nhu cầu; tỷ lệ này đạt 59–69% ở doanh nghiệp lớn và FDI nhưng chỉ khoảng 30–32% ở doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mặc dù chuyên môn của diễn giả nhận được 83,3% đánh giá tích cực, tính phù hợp với hoạt động kinh doanh và mức độ tương tác chỉ đạt lần lượt 46,3% và 40,3%.
Đây là trụ cột có kết quả nổi bật nhất của Đà Nẵng. Mức độ nắm rõ các VBPL (B1) và khả năng cơ quan QLNN tại địa phương ghi nhận, tiếp thu ý kiến doanh nghiệp (B7) cùng xếp hạng 11; chất lượng hướng dẫn VBPL (B3) xếp hạng 12, còn mức độ phức tạp khi tuân thủ (B4) xếp hạng 14. Mức độ tham gia tập huấn VBPL (B5, hạng 18) và phản hồi, góp ý của doanh nghiệp (B6, hạng 20) có kết quả thấp hơn nhưng vẫn tương đối gần mức trung bình cả nước.
Khoảng 55,6–58,2% doanh nghiệp nắm rõ ưu đãi thuế quan và quy tắc xuất xứ, nhưng tỷ lệ hiểu rõ SPS, môi trường, sở hữu trí tuệ và TBT chỉ đạt 27,5–31,1%. Hoạt động hướng dẫn VBPL tiếp cận khoảng 21–43% doanh nghiệp, trong đó độ bao phủ thấp nhất nằm ở SPS, TBT và môi trường. Dù có nền tảng nhận thức pháp lý tương đối tốt, khoảng 51–68% doanh nghiệp vẫn đánh giá các lĩnh vực pháp luật chủ yếu là phức tạp. Doanh nghiệp vừa gặp nhiều khó khăn với SPS, TBT, sở hữu trí tuệ và quy tắc xuất xứ, trong khi doanh nghiệp lớn và FDI cho biết khó khăn chủ yếu ở phòng vệ thương mại, lao động và môi trường.
Khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ (C6) và hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ của cơ quan QLNN địa phương (C7) cùng xếp hạng 17, còn mức độ tận dụng FTA do doanh nghiệp tự đánh giá (C1) xếp hạng 19, tương đối gần mức trung bình cả nước. Tuy nhiên, số nhóm cam kết được khai thác (C4) và rào cản khi tận dụng FTA (C5) cùng xếp hạng 31, trong khi khả năng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ của doanh nghiệp (C8) xếp hạng 26. Kết quả cho thấy doanh nghiệp đã tham gia tận dụng FTA nhưng phạm vi khai thác và mức độ hỗ trợ chuyên sâu còn hạn chế.
Hoạt động tận dụng tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực truyền thống: ưu đãi thuế quan (84,6%) và quy tắc xuất xứ (79,1%). Ngoài phòng vệ thương mại, không có cam kết mới nào được khai thác rộng, chỉ dưới 25% doanh nghiệp cho biết có tận dụng; tỷ lệ tận dụng SPS và TBT chỉ đạt 2,2%. Các chương trình đào tạo, xúc tiến thương mại và hỗ trợ thủ tục hành chính nhận được khoảng 53–68% đánh giá tích cực, nhưng hỗ trợ về công nghệ, thương hiệu, tài chính, kết nối doanh nghiệp nước ngoài và phòng vệ thương mại chỉ đạt 24–33%. Chương trình xúc tiến được đánh giá tương đối tốt về tài liệu và tính phù hợp (47–50%), nhưng chỉ 32,8% doanh nghiệp ghi nhận kết quả thương mại thực tế (tìm được đối tác, ký kết hợp đồng) sau chương trình.
Hiệu quả hỗ trợ của cơ quan nhà nước (D4, hạng 18) là chỉ tiêu gần mức trung bình nhất. Mức độ hiểu biết về các cam kết PTBV (D1) xếp hạng 20, chất lượng các hình thức hỗ trợ (D6) xếp hạng 21, còn nhận thức về tác động quy định PTBV đối với hoạt động kinh doanh (D2) và mức độ sẵn sàng đáp ứng các quy định PTBV (D3) cùng xếp hạng 22. Nhận thức về tầm quan trọng của việc tuân thủ các yêu cầu PTBV tại thị trường nhập khẩu (D5) xếp hạng 24. Trụ cột này không có điểm yếu đặc biệt nghiêm trọng nhưng cũng chưa hình thành được lợi thế nổi bật.
Khoảng 49–55% doanh nghiệp hiểu các cam kết chung về lao động và môi trường, nhưng tỷ lệ này chỉ đạt 22–28% đối với EUDR, SCDDD, CBAM và kinh tế tuần hoàn. Nhận thức về tác động của các yêu cầu PTBV cũng khác biệt rõ theo loại hình sở hữu: tỷ lệ doanh nghiệp FDI cho biết chịu ảnh hưởng lớn đối với quy định môi trường hơn doanh nghiệp tư nhân (44,1% so với 6,2%), lao động (33,3% so với 10,4%) và CBAM (18,2% so với 2,1%). Mức độ chuẩn bị đạt 67% đối với môi trường và 58,4% đối với lao động nhưng chỉ khoảng 30–35% ở các yêu cầu chuyên biệt. Hỗ trợ của cơ quan QLNN tại địa phương nhận được 43–60% đánh giá tích cực, trong khi khoảng 27–30% doanh nghiệp FDI cho biết chưa nhận được hỗ trợ ở một số lĩnh vực chuyên sâu.